Cổng thông tin điện tử Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Kiên Giang

Tiềm năng, lợi thế của tỉnh

Xem với cỡ chữAA

Giới thiệu tiềm năng và lợi thế của tỉnh Kiên Giang

(14:28 | 03/12/2018)

1. Lời giới thiệu:  

     Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam Việt Nam là tỉnh có đồng bằng, rừng nguyên sinh, đồi núi và biển đảo. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc biệt đã tạo cho Kiên Giang nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp, kinh tế biển, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông – thủy sản, cùng nhiều danh thắng và di tích lịch sử – văn hóa đặc sắc. Với vị thế là cửa ngõ ở phía Tây Nam thông ra vịnh Thái Lan, Kiên Giang còn có tiềm năng lớn về kinh tế cửa khẩu, hàng hải và mậu dịch quốc tế,… Tất cả điều kiện trên đã hội tựu tạo nên một Kiên Giang đầy tiềm năng và tràn đầy sức sống, hấp dẫn doanh nghiệp, nhà đầu tư và du khách.

     Trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2016 – 2020, tỉnh Kiên Giang tập trung phát triển kinh tế biển và du lịch; khuyến khích ưu tiên mời gọi đầu tư các dự án trọng điểm xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công  nghiệp, hoàn thiện mạng lưới giao thông thủy bộ, cấp điện, cấp thoát nước, phát triển đô thị,… nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo vệ môi trường bền vững.

2. Vị trí điạ lý:

     Kiên Giang là tỉnh giáp với biển Tây thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có diện tích trên 6.349 km2, bao gồm đất liền và hải đảo. Phía Bắc giáp Campuchia, với đường biên giới dài 56,8km, phía Nam giáp các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu; phía Đông Bắc giáp các tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang; phía Tây Nam là vịnh Thái Lan với bờ biển dài hơn 200km, có 145 hòn đảo lớn nhỏ, giáp với vùng biển của các nước Campuchia, Malaysia, Indonesia; trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc và xa nhất là đảo Thổ Chu, tạo nên 5 quần đảo: Bà Lụa, Hải Tặc, An Thới, Nam Du và Thổ Chu.

3. Địa hình:

      Kiên Giang có 03 dạng địa hình chính là đồng bằng, đồi núi và biển đảo. Địa hình đồi núi, bao gồm các núi ở khu vực ven biển từ huyện Hòn Đất đến thị xã Hà Tiên, tạo diện mạo đặc sắc cho vùng biển Kiên Giang có lợi thế về phát triển du lịch và sản xuất vật liệu xây dựng. Địa hình biển đảo, với 145 hòn đảo ở hai huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải thuận lợi cho phát triển du lịch, vận tải, nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là du lịch phát triển biển. Địa hình đồng bằng, chia cắt thành 03 vùng lớn: Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu và U Minh Thượng.

4. Khí hậu:

     Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ  tháng 12 đến tháng 04 năm sau. Khí hậu ở Kiên Giang ít gây thiên tai hơn so với các vùng khác trong cả nước, rất thuận lợi thâm canh tăng vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cho năng suất, chất lượng sản phẩm.

5. Tài nguyên đất:

     Tổng diện tích đất tự nhiên trên 634.000 ha, trong đó: Nhóm đất nông nghiệp diện tích 57.000 ha chiếm 89,90% đất tự nhiên (đất lúa có diện tích 395.000 ha chiếm gần 62,34% đất nông nghiệp); đất phi nông nghiệp trên 61.000 ha, chiếm 9,73% diện tích đất tự nhiên; đất chưa sử dụng trên 3.374 ha, chiếm 0,37% đất tự nhiên. Nhìn chung, đất đai của Kiên Giang rất thích hợp cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

6. Tài nguyên rừng:

     Kiên Giang là một trong hai tỉnh có diện tích rừng lớn nhất vùng ĐBSCL, với tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 71.000 ha. Trong đó, rừng sản xuất trên 6.067 ha; rừng phòng hộ trên 26.000 ha và rừng đặc dụng trên 38.000 ha. Kiên Giang có Vườn quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và khu bảo vệ cảnh quang Hòn Chông đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển và các hệ sinh thái rừng đặc trưng. Đây dược coi là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Đông Nam Á với tổng diện tích hơn 1,1 triệu ha nằm ở các huyện Phú Quốc, An Minh, Vĩnh Thuận, thị xã Hà Tiên và thành phố Rạch Giá.

7. Tài nguyên khoáng sản:

     Kiên Giang có nguồn khoáng sản tương đối lớn ở vùng ĐBSCL, với trữ lượng đá vôi khoảng 440 triệu tấn (lớn nhất miền nam) và trữ lượng khai khác hàng năm là 245 triệu tấn; đá xây dựng trữ lượng khoảng 120 triệu tấn, đất sét trữ lượng 42 triệu tấn, than bùn trữ lượng 150 triệu tấn,… đáp ứng nguồn nguyên liệu khoáng sản phục vụ sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, phân bón,…

8. Tài nguyên thủy sản:

     Vùng biển Kiên Giang được xác định là ngư trường giàu tiềm năng của cả nước, có lợi thế hơn hẳn các tỉnh, thành khác trong khu vực để phát triển kinh tế biển. Với bờ biển dài trên 200 km, ngư trường đánh bắt rộng 63.290 km; ngoài cá, tôm còn có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: Đồi mồi, hải sâm, bào ngư, ngọc trai và nhiều loại rong biển dùng làm thực phẩm, dược phẩm. Kiên Giang đã và đang phát triển dự án đánh bắt xa bờ để tăng sản lượng khai thác mà vẫn bảo vệ được môi trường và nguồn lợi thủy sản ven bờ. Toàn tỉnh có trên 10.104 phương tiện khai thác hải sản với tổng công suất trên 1,90 triệu CV đáp ứng nhu cầu khai thác đánh bắt xa bờ cũng như thu mua chế biến hải sản xuất khẩu, sản lượng khai thác đạt trên 500.000 tấn/năm

     Bên cạnh vùng biển rộng lớn, Kiên Giang đầu tư phát triển nhiều vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp với diện tích 104.935 ha, tổng sản lượng đạt trên 56.000 tấn/năm, tập trung ở thị xã Hà Tiên và các huyện: Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, An Minh, An Biên và Vĩnh Thuận, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho chế biến thủy sản.

9. Tài nguyên du lịch:

     Kiên Giang có nhiều danh thắng và di tích lịch sử nổi tiếng trong đất liền cũng như hải đảo, hình thành 4 vùng du lịch trọng điểm gồm: U Minh Thượng, Rạch Giá – Hòn Đất – Kiên Hải, Phú Quốc, Hà Tiên – Kiên Lương.

10. Dân số, lao động và việc làm:

     Dân số trên 1,7 triệu người, chiếm trên 10% dân số vùng ĐBSCL; có trên 1,1 triệu người trong độ tuổi lao động, lực lượng lao động trẻ, có tay nghề đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Hàng năm, số lao động được giải quyết việc làm là 33.800 lượt người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%.

11. Giáo dục và đào tạo:

     Kiên Giang có 01 trường đại học, 05 trường cao đẳng, 01 trường trung cấp chuyên nghiệp với 9.271 sinh viên, gần 50 trung tâm, cơ sở đào tạo nghề, hướng nghiệp khác. Toàn tỉnh có 677 trường với 2.560 lớp học và 326.786 học sinh các bậc giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông và bổ túc văn hóa, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trên 99%.

12. Dịch vụ ngân hàng:

      Hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ, hiện toàn tỉnh có trên 60 tổ chức tín dụng, có khả năng cung ứng vốn đầu tư cho các chương trình, dự án trong và ngoài nước, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh; hệ thống chuyển tiền điện tử đã được triển khai, đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp và cá nhân. Hệ thống điểm đặt máy rút tiền ATM có mặt hầu hết tại trung tâm thành phố, thị xã và thị trấn trên địa bàn tỉnh.

13. Hạ tầng giao thông:

     Kiên Giang cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km, cách thành phố Cần Thơ 115 km. Mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy và đường hàng không nối liền các tỉnh trong cả nước và các nước trong khu vực, thuận lợi cho việc hợp tác đầu tư, kết nối giao thương và phát triển du lịch. 

     - Đường bộ:  Là tỉnh có 05 tuyến quốc lộ nối với các tỉnh và các vùng như: Quốc lộ 80, quốc lộ 61, quốc lộ 63, quốc lộ N1 và quốc lộ N2, với tổng chiều dài 316 km. Hệ thống đường tỉnh lộ gồm 19 tuyến với chiều dài 300 km; đường đô thị dài 915 km và đường giao thông nông thôn dài 950 km. Đặc biệt, dự án cầu Cái Lớn - Cái Bé đã hoàn thành và đi vào hoạt động năm 2014 tạo nên tuyến giao thông liền mạch kết nối các huyện trong tỉnh và các tỉnh khác tiếp giáp với vùng U Minh Thượng.

     - Đường thủy: Kiên Giang có 200 km đường bờ biển; một số tuyến đường thủy quan trọng như tuyến Kiên Lương – Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc và tuyến Rạch Giá – Kiên Hải, thuận lợi trong việc giao thương hàng hóa, tạo ra các điểm tham quan du lịch sinh thái, miệt vườn… Tỉnh có các cảng chính có thể phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội như: Cảng Dương Đông, cảng An Thới, cảng Hòn Chông, cảng Bãi Nò, cảng Nam Du, cảng Rạch Giá, cảng Bãi Vòng,... 

     - Đường hàng không: Kiên Giang có Cảng hàng không Rạch Giá, kết nối các đường bay nội địa đến các tỉnh, thành phố trong nước; Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, du khách và các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hiện nay, Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đã mở các đường bay quốc tế đến các quốc gia như: Nga, Trung Quốc, Singapore, Campuchia... có khả năng tiếp nhận 20 máy bay trong giờ cao điểm, lượng hàng hóa qua cảng là 27.600 tấn/năm, có thể vận chuyển 3 triệu lượt khách/năm đến năm 2020 và 7 triệu lượt khách/năm đến năm 2030.

14. Bưu chính viễn thông:

     Mạng lưới bưu chính viễn thông được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại hóa, phát triển nhanh đảm bảo cung cấp các thông tin liên lạc, dịch vụ với độ tin vây cao, thông suốt trong nước và quốc tế. Toàn tỉnh có 36 điểm bưu cục, 137 bưu điện văn hóa xã đến các vùng sâu, vùng xa và hải đảo trên địa bàn tỉnh; 100% các xã, phường, thị trấn đã có điện thoại cố định. Các loại hình dịch vụ như: Điện thoại di động, internet đã phủ khắp các xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

15. Mạng lưới điện và nước:

     Mạng lưới điện được đầu tư đồng bộ và hiện đại. Hiện nay, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99%. Đặc biệt, dự án cáp điện ngầm 100 KV xuyên biển nối Hà Tiên - Phú Quốc; dự án đường dây 22 KV vượt biển nối Hòn Đất - Hòn Tre và đường dây ven biển An Sơn – Lại Sơn – Nam Du huyện Kiên Hải đã hoàn thành, đưa vào hoạt động, đảm bảo cung cấp nguồn điện ổn định, phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế – xã hội của huyện Phú Quốc và Kiên Hải.

     Về cấp nước, hiện nay toàn tỉnh Kiên Giang có 03 nhà máy tập trung và 70 trạm bơm, với tổng công suất của các hệ thống khai thác, xử lý và cung cấp nước cho cả 3 khu vực đô thị, nông thôn và hải đảo khoảng 110.000 m3/ngày đêm. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh ở khu vực thành thị đạt 97,10%, ở khu vực nông thôn đạt 81,11%./.